Đánh đồng chính quyền với thể chế chính trị – Tự do biến tướng Luật bởi cơ quan hành pháp

Điều 88 bộ Luật Hình Sự Việt Nam: “Cố ý tạo ra một sự sợ hãi thường trực”

Bộ Luật Hình Sự Việt Nam (DR)

Bộ Luật Hình Sự Việt Nam (DR)

Nhân sĩ trí thức Việt Nam trong và ngoài nước thu thập chữ ký kêu gọi hủy bỏ điều 88 trong Bộ Luật Hình Sự. Báo Quân Đội Nhân Dân ngày 13/01/2013 cho đây là một âm mưu xóa bỏ chế độ bằng diễn biến hòa bình. Theo lập luận này, các công ước Liên Hiệp Quốc công nhận quyền công dân là “bảo vệ chế độ” và cao hơn nhân quyền. RFI đặt câu hỏi với Tổng thư ký Hiệp hội Quốc tế Nhân quyền (ISHR) Vũ Quốc Dụng từ Frankfurt, Đức.

Vũ Quốc Dụng, Tổng thư ký Hiệp hội Quốc tế Nhân quyền

16/01/2013

RFI : Các trí thức Việt Nam cho rằng Điều 88 ‘‘bóp nghẹt quyền tự do ngôn luận” và “gây nguy hiểm cho trí thức”, ISHR đánh giá như thế nào?

Vũ Quốc Dụng : Điều 88 ‘‘Tội tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam’’ thuộc về chương ‘‘Các tội xâm phạm an ninh quốc gia’’của Bộ Luật Hình Sự Việt Nam (BLHS) là một công cụ đàn áp chính trị chứ không phải là một điều luật bình thường. Chúng ta có nhiều minh chứng cho điều này. Trước hết các từ ngữ và nội hàm của điều này rất mơ hồ và không được sách luật nào ở Việt Nam giải thích cho thấu đáo.

Ngay cả các luật sư tại Việt Nam cũng bị bắt vì những cáo buộc vi phạm điều 88. Chính luật sư tốt nghiệp ở Mỹ như Lê Công Định, luật gia tiến sĩ của Pháp là Cù Huy Hà Vũ, luật sư tốt nghiệp ở Việt Nam như Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân, Lê Trần Luật lẫn những luật gia mới tốt nghiệp như AnhBaSg Phan Thanh Hải và Tạ Phong Tần cũng không thể nào hiểu nổi điều 88.

Sự mơ hồ này giúp cho công an, viện kiểm sát và tòa án tha hồ suy diễn tùy tiện để bắt giam và kết án. Hơn một trăm tù nhân chính trị tại Việt Nam hiện nay đều có dính dáng ít nhiều đến những cáo buộc về tội tuyên truyền chống nhà nước. Trong những bản kết luận điều tra, cáo trạng và bản án của họ chúng tôi thấy lúc nào cũng thấy ẩn hiện điều 88. Việc dùng tội danh nào để cuối cùng kết án họ lại là một vấn đề khác nhưng rõ ràng họ bị làm tội vì không cùng chính kiến với chế độ cộng sản tại Việt Nam. Cho nên điều 88 – mà nhiều nhà hí họa đã vẽ thành 2 cái còng số 8 khóa môi người Việt Nam – như một lưỡi kiếm Damoclès treo lơ lửng trên đầu mọi người.

Việc áp dụng điều 88 tùy tiện đến nỗi họ không biết nó sẽ phập xuống lúc nào. Bắt họ hay xử tội họ lúc nào là quyền của công an. Hiệp hội Nhân quyền quốc tế (ISHR) cho rằng việc soạn thảo một điều luật 88 mơ hồ và việc áp dụng điều 88 một cách tùy tiện là một sự cố ý, cố ý tạo ra một sự sợ hãi thường trực và không thể xác định được một cách rõ rệt. Chính sự sợ hãi này đã bóp nghẹt quyền tự do ngôn luận trên tất cả các lãnh vực từ báo chí, thông tin, truyền thông, internet, đến tư tưởng, tôn giáo, nghệ thuật, khoa học, nghiên cứu, giảng dạy ở Việt Nam chứ không phải chỉ trong lãnh vực chính trị và xã hội.

Chính vì vậy mà chúng ta thấy trong danh sách của bản kêu gọi bỏ điều 88 BLHS và Nghị định 38 vào ngày 25/12/2012 vừa qua đã có chữ ký của những đại diện rất có uy tín trên tất cả những lãnh vực này. ISHR cho rằng những trí thức này đang thực sự lo sợ khi thấy những phản biện và kiến nghị hợp pháp về chính sách, bộ máy cầm quyền có thể dẫn đến việc truy tố họ. Việc họ lên tiếng tập thể sẽ nhắc nhở chính quyền Việt Nam nên rà soát lại những điều luật lỗi thời – nhất là những điều luật hình sự trong chương “Các tội xâm phạm an ninh quốc gia“.

RFI : Việt Nam bị quốc tế chỉ trích về Điều 88. Vậy Điều 88 có vi phạm quyền tự do ngôn luận theo luật quốc tế không ?

Vũ Quốc Dụng : Việt Nam đã tham gia ký kết Công ước quốc tế về Quyền Dân sự và Chính trị (ICCPR) cho nên mọi người Việt Nam và các dân tộc khác trên thế giới chờ đợi chính quyền Việt Nam thành tâm và hoàn toàn tuân thủ những điều khoản ghi trong đó, kể cả điều 19 về tự do ngôn luận. Liên Hiệp Quốc và các cơ chế của nó như Ủy ban Nhân quyền là uỷ ban đảm nhiệm việc giám sát thi hành ICCPR cũng như Hội đồng Nhân quyền đã có vô số văn bản để giải thích điều này. Cho nên việc tìm hiểu cho rõ và áp dụng cho đúng không phải là khó.

Chúng tôi xin tóm tắt những vi phạm của điều 88. Trước hết theo luật quốc tế, quyền tự do ngôn luận gồm có 2 quyền: thứ nhất là quyền tự do có quan điểm riêng và thứ hai là quyền tự do bày tỏ quan điểm của mình. Xin lấy thí dụ chị Phạm Thanh Nghiên bị bắt khi đang ngồi trong nhà riêng và cầm trong tay một tấm giấy ghi chữ “Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam, Phản đối công hàm bán nước của Phạm Văn Đồng.” Xin nhấn mạnh là biên bản bắt chị Nghiên ghi rõ chị bị bắt vì cầm giấy ngồi trong nhà. Chị Bùi Thị Minh Hằng bị bắt đưa đi cải tạo vì đã đội nón lá và quàng khăn ghi chữ “Hoàng Sa – Trường Sa – Việt Nam” ra đứng trước Nhà thờ. Hai chị đã bị xâm phạm nghiêm trọng quyền tự do có quan điểm, mà theo luật quốc tế, là một nhân quyền tuyệt đối, nghĩa là một nhân quyền không thể bị giới hạn hay xâm phạm trong bất cứ hoàn cảnh nào.

Về quyền bày tỏ quan điểm thì điều 19 của ICCPR bao gồm quyền tìm kiếm, tiếp nhận và phổ biến mọi loại thông tin trong khi điều 88 thì cấm tuyên truyền, làm ra, tàng trữ, lưu hành tài liệu chống Nhà nước Việt Nam. Nhà nước Việt Nam là ai, bị thiệt hại quyền lợi gì thì đến giờ cũng không ai rõ. Tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ yêu cầu được đối chất với đại diện Nhà nước, là người bị xem là bị hại trong vụ án của ông, nhưng không được. Công an Việt Nam bắt cả những người nhận được bài từ một địa chỉ email không quen biết, buộc tội cả những bài viết chưa phổ biến tìm thấy trên máy tính, và thường xuyên dẫn chứng bằng những bài viết và bài phỏng vấn trên các cơ quan truyền thông có uy tín quốc tế.

Điều 88 đi ngược hoàn toàn với tinh thần của điều 19 của bản ICCPR và quyền tự do ngôn luận được diễn giải rất rõ trong các bình luận luật học của Uỷ Ban Nhân quyền LHQ. Việc giam giữ công dân Việt Nam theo điều 88 đã nhiều lần bị các cơ quan LHQ lên án, cụ thể, Cao ủy Nhân quyền LHQ và Tổ Công tác về Giam giữ Tùy Tiện của Hội đồng Nhân quyền LHQ đã phải nhiều lần can thiệp trong năm qua. Ngay cả Báo cáo viên Đặc biệt về Tự do Ngôn luận của LHQ cũng không được sang thăm Việt Nam mặc dù đã có yêu cầu từ năm 2002.

Tôi còn nhớ trong đợt Cứu xét Báo cáo Định kỳ toàn Thế giới về Nhân quyền hồi năm 2009, đề tài vi phạm quyền tự do ngôn luận tại Việt Nam là đề tài bị nhiều quốc gia phê bình nhất. Chúng ta cần biết rằng Điều 88 ra đời năm 1999, nghĩa là, 17 năm sau khi Việt Nam gia nhập ICCPR. Tại sao lúc đó – năm 1999 – và ngay cả đến bây giờ điều 88 không chịu thích ứng với điều ước quốc tế này cho thấy Việt Nam không nội luật hóa những cam kết quốc tế và rõ ràng không thực tâm thi hành những cam kết.

RFI : Lý do an ninh quốc gia thường được chính quyền Việt Nam đưa ra để giới hạn quyền tự do ngôn luận. Vậy lý do này có xác đáng không ?

Vũ Quốc Dụng : Chính luật quốc tế cũng không quan niệm rằng quyền tự do cá nhân phải tuyệt đối nên điều 19 của ICCPR cũng có đặt ra những giới hạn. Nhưng những giới hạn này phải hợp lý để không làm triệt tiêu chính cái quyền tự do ngôn luận. Luật quốc tế biết rằng việc giới hạn rất dễ bị lợi dụng và lạm dụng nên đã đưa ra những qui định rất chặt chẽ.

Như đã trình bày ở trên, điều 19 của ICCPR không cho phép giới hạn quyền tự do có quan điểm vì nó là một quyền tuyệt đối. Đối với quyền bày tỏ quan điểm thì điều 19 cho phép giới hạn để bảo vệ an ninh quốc gia, nhưng bắt phải ra luật đặc biệt thích ứng với hoàn cảnh ngoại lệ này. Trước hết luật quốc tế hiểu “nhu cầu bảo vệ an ninh quốc gia” là khi có xảy ra tình trạng khẩn trương thực sự đe dọa sinh mạng toàn quốc gia và Nhà nước chính thức công bố tình trạng khẩn trương này. Thứ đến, trong đạo luật liên quan, mục đích của việc giới hạn phải được định nghĩa rõ ràng, những biện pháp đưa ra phải liên quan trực tiếp đến mục đích và mức độ của những biện pháp phải có chừng mực tương xứng với mục đích nêu ra.

Điều 88 không thỏa mãn những điều kiện kể trên. Việt Nam đã có hòa bình trong bao năm nay và chưa bao giờ ban bố tình trạng khẩn trương vì quốc gia bị đe dọa toàn diện. Cho nên phải hiểu là cụm từ “an ninh quốc gia” được dùng trong BLHS chỉ là sự an toàn của chế độ cộng sản đương quyền và do đó không phải là trường hợp để áp dụng những giới hạn theo khoản 3 của điều 19 ICCPR.

Có một bài trước đây trên tờ Quân Đội Nhân Dân cũng nêu ra quyền tự quyết về chính trị theo ICCPR để biện minh rằng chế độ chính trị hiện nay cần được bảo vệ. Trong luât quốc tế quyền tự quyết dân tộc liên quan đến tư cách chính trị trên trường quốc tế của một quốc gia, nghĩa là 1 trong 3 tư cách: Độc lập, bị đô hộ hay bị bảo hộ; chứ không liên quan đến thể chế chính trị của một nước. Việc mạo xưng quyền tự quyết dẫn đến hiểu lầm cho rằng chính quyền có toàn quyền xử lý người dân và không cho bất cứ quốc gia nào can thiệp vào.

RFI : Quyền công dân và nghĩa vụ công dân được hiểu thế nào trong quan niệm nhân quyền ?

Vũ Quốc Dụng : Quyền công dân là quyền của những người có quốc tịch của một quốc gia và được Hiến pháp và luật pháp nước đó bảo vệ. Nhân quyền là quyền của con người, vì họ là người, có giá trị đối với mọi người ở mọi nơi trên thế giới, và được luật pháp quốc tế định nghĩa và bảo vệ. Nói chung quyền công dân không được phép mâu thuẫn với nhân quyền phổ quát. Nếu có mâu thuẫn hay khác biệt thì có thể xảy ra tình trạng vi phạm nhân quyền.

Trong trường hợp này, nếu quốc gia đó là thành viên của một công ước quốc tế thì cơ chế giám sát của công ước này sẽ xem xét trường hợp vi phạm. Nếu không tham gia bất cứ công ước nào và vụ vi phạm nhân quyền là nghiêm trọng thì Hội đồng Nhân quyền và các cơ chế của nó vẫn tiến hành xem xét. Cho nên không thể tách quyền công dân ra khỏi nhân quyền được và một quốc gia không thể tùy tiện mà xử lý công dân của mình được. Lý luận cho rằng mỗi nước có quyền xét xử công dân phạm pháp của mình theo luật riêng là đúng, nếu luật và việc xét xử không vi phạm luật nhân quyền quốc tế, và là sai nếu vi phạm luật nhân quyền quốc tế.

Trong tinh thần đó, điều 29 của Tuyên ngôn Nhân quyền Quốc tế, đưa ra trách nhiệm hỗ tương giữa công dân và Nhà nước. Theo đó, người công dân phải có nghĩa vụ đối với “cái cộng đồng mà chỉ trong đó họ mới có thể phát triển một cách toàn vẹn tự do và nhân cách của mình“ trong những giới hạn chính đáng của một xã hội dân chủ. Cho nên ở đây vấn đề nghĩa vụ công dân chỉ đặt ra khi nhà nước cũng phải hoàn thành nhiệm vụ bảo đảm đầy đủ các nhân quyền cho công dân.

Nói chung, những bài báo viết về nhân quyền trên tờ Quân Đội Nhân Dân thường có cố tình cắt xén chỗ này, lắp ghép khái niệm chỗ kia để biện hộ cho lập trường nhân quyền cá biệt của Việt Nam. Việc làm này sẽ làm cho người dân Việt Nam hiểu sai luật nhân quyền quốc tế và càng làm cho Việt Nam khó hội nhập với quốc tế về mặt nhân quyền.

Thời cơ và vận hội đất nước

 

‘Một lần lỡ thời cơ mất cả trăm năm’

Cập nhật: 06:40 GMT – thứ năm, 24 tháng 1, 2013
Cựu Phó Thủ tướng, Ngoại trưởng Nguyễn Mạnh Cầm (ảnh của Tuần Việt Nam)

Ông Nguyễn Mạnh Cầm là bộ trưởng ngoại giao cuối cùng (không kiêm nhiệm) có chân trong Bộ Chính trị

Cựu bộ trưởng ngoại giao Việt Nam Nguyễn Mạnh Cầm nói “tâm thức nô dịch và bá quyền, chinh phục và triều cống nhiều khi vẫn lấn lướt, tư duy ‘một mất một còn’ vẫn nổi trội trong các mối bang giao”.

Ông cũng nói về tầm quan trọng trong xây dựng các mối quan hệ đối tác, trong đó có quan hệ với cựu thù Hoa Kỳ.

Ông Cầm, 85 tuổi, giữ chức Ngoại trưởng từ 1991-2000, Phó Thủ tướng từ 1997-2002, và là bộ trưởng ngoại giao không kiêm nhiệm cuối cùng có chân trong Bộ Chính trị Đảng CSVN.

Ông vừa có bài Bấm trả lời phỏng vấn báo điện tử Tuần Việt Nam nhân dịp kỷ niệm 40 năm Hòa đàm Paris, trong đó ông đưa ra một số bình luận về chính sách đối ngoại của chính phủ Việt Nam gần nửa thế kỷ qua.

Người từng làm công việc theo dõi hội đàm Paris và thực hiện Hiệp định Paris về Việt Nam, sau đó đứng đầu ngành ngoại giao Việt Nam trong gần 10 năm, thừa nhận chính sách “cân bằng động” trong quan hệ với hai đồng minh lớn của Việt Nam thời kỳ chiến tranh với Hoa Kỳ – Liên Xô và Trung Quốc.

Chính sách này dựa trên nền tảng “một lý do quan trọng mà cố Tổng bí thư Lê Duẩn có lần đã giải thích một cách đơn giản: Ta đánh là đánh cả cho Trung Quốc, cho Liên Xô!”.

Trong khi khen ngợi thành công trong đấu tranh ngoại giao để đi đến thực sự kết thúc chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam, ông Cầm cũng nói đến điều mà ông gọi là ‘cơ hội bị bỏ lỡ’.

Trước hết, theo ông, cơ hội hòa hợp dân tộc bị bỏ lỡ sau Hiệp định Paris “do chủ trương tràn ngập lãnh thổ của Sài Gòn”.

Đồng thời, trong những năm sau đó, “cơ hội bình thường hóa quan hệ giữa Việt Nam với Hoa Kỳ bị đẩy lùi hàng chục năm”.

‘Một lần nhỡ thời cơ, hận muôn đời ‘

Theo cựu ngoại trưởng Nguyễn Mạnh Cầm, thách thức đặt trước dân tộc Việt Nam cả trong quá khứ và hiện tại là tư duy đối đầu, triệt tiêu lẫn nhau trong quan hệ với các nước ngoài.

Bên cạnh đó, là chính sách của nước lớn đối với nước nhỏ, mà ông gọi là “tâm thức nô dịch và bá quyền, chinh phục và triều cống nhiều khi vẫn lấn lướt”, tuy không chỉ rõ tên cường quốc.

“Đấy chính là khởi nguồn đã gây ra bao nghịch lý cho dân tộc Việt trong lịch sử, nay nếu ta không biết cách chế ngự nó, tương lai có nhiều điều khó dự đoán!”

“Cơ hội bình thường hóa quan hệ giữa Việt Nam với Hoa Kỳ bị đẩy lùi hàng chục năm cũng là do tư duy đối đầu ấy gây ra!”

Ông cảnh báo: “Vấn đề tạo thời cơ và nắm bắt thời cơ là bài học vô cùng quan trọng”.

“Trong ngoại giao nói riêng và vận nước nói chung, nếu ta để nhỡ thời cơ, có khi phải mất rất lâu, thời cơ mới xuất hiện trở lại, hạn chế rất lớn đến lộ trình thực hiện các mục tiêu tổng thể của cách mạng.”

Một số năm trước đây, sau khi Việt Nam và Mỹ bình thường hóa quan hệ năm 1995, đã có quan điểm trong thượng tầng lãnh đạo Việt Nam cho rằng nên thúc đẩy quan hệ đối tác chiến lược với Hoa Kỳ. Tuy nhiên, tiến trình này tới nay chưa dịch chuyển được bao nhiêu.

Ông Nguyễn Mạnh Cầm kêu gọi “vấn đề thời cơ, vấn đề tập hợp lực lượng, ngày nay ta gọi là xây dựng hệ thống các quan hệ đối tác, là những vấn đề cốt tử của cách mạng”.

Ông cũng trích lời Nguyễn Trường Tộ, người được xem như một trong các ông tổ của ngành ngoại giao Việt Nam: “Một lần nhỡ thời cơ, hận muôn đời. Khi quay đầu nhìn lại, cơ đồ mất trăm năm”.

Dân tộc và thời đại với nội hàm mới…

Tác giả: Phương Loan & Hoàng Lâm (thực hiện)
Bài đã được xuất bản.: 24/01/2013 02:00 GMT+7

Ngày nay, dân chủ, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội là trào lưu nổi trội. Còn ý chí tự cường, đoàn kết quốc gia và đồng thuận xã hội là cội nguồn sức mạnh của mỗi nước. Phát huy sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại là phải kết hợp được nhuần nhuyễn các trào lưu phổ quát ấy.

LTS: Nhân 40 năm ngày ký Hiệp định Paris về Việt Nam (27/1/1973 – 27/1/2013), nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng bộ Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm đã phát biểu như trên với nhóm phóng viên Tuần Việt Nam về quan điểm lịch sử khi đánh giá ý nghĩa của Hiệp định và về những kinh nghiệm trong quan hệ với các cường quốc tại hòa đàm Paris. Sau đây là nội dung cuộc trao đổi:

– Lùi lại 40 năm sau sự kiện chấn động thế giới, giờ đây các nhà nghiên cứu quốc tế, từ nhiều góc nhìn khác nhau, nhận xét Hiệp định Paris về Việt Nam 1973 như một “tao đoạn kỳ lạ” (strange interlude), một “cự ly an toàn” (decent interval) trong cuộc chiến. Xin ông bình luận?

Ông Nguyễn Mạnh Cầm: Nhận xét Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam như một “strange interlude” là muốn nói tới “thời gian giải lao” giữa hai trận đánh. Trên thực tế, các hoạt động quân sự và ngoại giao đâu có dừng lại trong thời đoạn từ lúc ký Hiệp định cho đến khi tổng tấn công và nội dậy!

Còn “cự ly an toàn” là muốn nói về ý đồ của Nixon vừa muốn tái cử, vừa muốn giữ Thiệu. Tuy nhiên, do chủ trương tràn ngập lãnh thổ của Sài Gòn, nên cơ hội hòa hợp dân tộc bị bỏ lỡ.

Nhưng vượt lên các thuật ngữ ấy là vấn đề triết lý lịch sử, nhất là khi chúng ta đã qua một thời gian khá dài, lùi lại 40 năm như phóng viên vừa nói.  Về phương pháp luận, phải biết dựa vào những dữ kiện có thật, chứ không thể chỉ dựa vào cảm quan của người viết

Có thể có chút phóng đại, nhưng tôi chia sẻ với nhận xét, có một lịch sử như nó diễn ra và một lịch sử như nhà sử học viết ra…

Tâm thức nô dịch và bá quyền, chinh phục và triều cống nhiều khi vẫn lấn lướt… chính là khởi nguồn đã gây ra bao nghịch lý cho dân tộc Việt trong lịch sử, nay nếu ta không biết cách chế ngự nó, tương lai có nhiều điều khó dự đoán! Ảnh Lê Anh Dũng

Phương án đấu tranh ngoại giao

Hiệp định Paris về Việt Nam, ngay như tên gọi đã có phần thiếu chính xác. Tiếng là Hiệp định hòa bình năm 1973, nhưng trên thực tế, mãi tới ngày cuối cùng của tháng 4/1975, hòa bình thực sự mới được vãn hồi. Và nền hòa bình ấy được lập lại không theo cách mà các điều khoản của Hiệp định quy định.

Ông bình luận như thế nào về nhận định này của GS Kolko, tác giả một trong những cuốn sách “best seller” về sự nghiệp đấu tranh của nhân dân ta, cuốn “Giải phẫu một cuộc chiến”?

Tôi không nghĩ Hiệp định Paris về Việt Nam là một “misnomer” (gọi sai)! Hiệp định là phương án đấu tranh ngoại giao để đi đến thực sự kết thúc chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam. Và như mọi dự án chính trị trong lịch sử, đó là sự thỏa hiệp giữa các bên tham gia cuộc đàm phán ma-ra-tông. Phương án này phản ánh so sánh thế và lực giữa các bên, phản ánh các tình huống trong cuộc chiến vào thời điểm các bên quyết định ký kết để chấm dứt một giai đoạn, phục vụ cho ý đồ chính trị, quân sự của giai đoạn tiếp theo.

Tâm thức nô dịch và bá quyền, chinh phục và triều cống nhiều khi vẫn lấn lướt, tư duy “một mất một còn” vẫn nổi trội trong các mối bang giao. Đấy chính là khởi nguồn đã gây ra bao nghịch lý cho dân tộc Việt trong lịch sử, nay nếu ta không biết cách chế ngự nó, tương lai có nhiều điều khó dự đoán!

Nguyên Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm nói.

Một trong những điểm mấu chốt là ý đồ của các bên không giống nhau, thậm chí còn đối nghịch nhau. Cả bốn bên đều ý thức rõ điều này khi chấp thuận đặt bút ký. Vì vậy mới có định nghĩa kinh điển “ngoại giao là nghệ thuật của những điều không thể”.Việc lập lại hòa bình đã không diễn ra như các điều khoản của Hiệp định không hề giảm giá trị đích thực của Hiệp định, bởi vì lịch sử không bao giờ đứng yên. Lịch sử như một tiến trình và khi tiến trình ấy vận động thì nó không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của bất cứ ai, mà tùy thuộc vào diễn tiến khách quan của nhiều nhân tố.

Bao giờ cũng có một giả thiết lịch sử và một thực tế lịch sử như tôi đã nói ở trên; sự giao thoa giữ hai mảng này có thể nhiều hay ít tùy thuộc vào tương quan lực lượng và tùy thuộc vào tương tác giữa các nhân tố chủ đạo trong quá trình vận động. Trên thực tế, nội dung Hiệp định đã mở ra nhiều “không gian trống” cho các tình huống về sau này…

Vâng, như chúng ta thấy, mặc dầu ký Hiệp định, nhưng Nixon vẫn tuyên bố, Mỹ chỉ công nhận Việt Nam Cộng hòa do Thiệu cầm đầu là chính phủ hợp pháp duy nhất. Điều này có nghĩa là Mỹ chỉ ủng hộ những nội dung nào của Hiệp định có lợi cho Mỹ và bỏ qua những phần còn lại.

Đến lượt mình, chính quyền Thiệu cũng từ chối công nhận chính quyền cách mạng và chỉ chịu ký một văn bản tách rời, loại trừ mọi ám chỉ liên quan đến công nhận chính phủ cách mạng lâm thời.

Đấy là phương thức của thỏa hiệp, mà căn cốt của vấn đề là ở chỗ phải tìm được lối thoát hợp lý, tại thời điểm ấy, cho một tình huống bất thường, đó là có hai chính quyền không công nhận nhau về mặt pháp lý, nhưng lại phải có chữ ký của cả bốn bên tham gia đàm phán thì mới đi đến chung cuộc của quá trình hòa đàm.

Chính những tréo ngoe ấy đã tạo ra các “không gian trống” như tôi đã đề cập ở trên.

Đến lượt mình, các “không gian trống” ấy lại mở đường cho các biến cố lịch sử mà khi ký Hiệp định không phải tất cả các bên đều trù liệu giống nhau, thậm chí như tôi đã nói, hoàn toàn đối đầu nhau.

Vì các bên không công nhận nhau, đó là cơ sở khách quan để chính quyền cách mạng chủ động thay đổi so sánh lực lượng, tiến lên giành thắng lợi trên chiến trường về sau.

Quan hệ nước lớn với nước nhỏ

Ông đánh giá như thế nào về việc xử lý các mối quan hệ giữa Việt Nam với các nước lớn liên quan đến quá trình đàm phán Paris? Làm thế nào mà chúng ta vẫn đạt mục tiêu trong bối cảnh có chia rẽ sâu sắc giữa Liên Xô và Trung Quốc?

Đây là một chủ đề lớn, phức tạp nhưng rất bổ ích, nó không chỉ liên quan đến hòa đàm Paris, mà còn là “nguồn mạch chính” vận động hữu hình và vô hình trong quan hệ quốc tế giữa nước lớn với các nước nhỏ nói chung, cũng như trong toàn bộ tiến trình cách mạng Việt Nam nói riêng.

Với tư cách là một cán bộ ngoại giao được chứng kiến sự chỉ đạo sát sao và trực tiếp của Bộ Chính trị, tôi nhận thức được một số nguyên tắc cơ bản để xử lý mối quan hệ với các nước lớn, dù đó là bạn bè, đồng minh hay đối thủ.